A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bác sĩ Quân y với những “phép màu” giữa lằn ranh sinh tử

QPTDD-Hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026), chúng tôi có dịp tìm gặp Bác sĩ quân y Giang Văn Toản tại xã Hưng Đạo, thành phố Hà Nội. Trong căn phòng khách nhỏ treo đầy huân huy chương và bằng khen, người cựu chiến binh của Trung đoàn 320 anh hùng đã tái hiện lại một thời hoa lửa bằng những ký ức không thể nào quên về những ca mổ “vô tiền khoáng hậu” giữa chiến trường.

Hành trình tôi luyện của “người thầy thuốc áo xanh”

Trở về sau khói lửa, ông vẫn là tấm gương sáng về sự học và lối sống giản dị, khiêm nhường cho thế hệ con cháu noi theo.

Sinh năm 1943, chàng trai trẻ Giang Văn Toản nhập ngũ vào ngày 11/4/1963, đóng quân tại Trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Chỉ một năm sau, vào tháng 10/1964, ông tình nguyện gia nhập một lữ đoàn đặc biệt gồm 600 quân tại Đền Hùng để chuẩn bị vào miền Nam chiến đấu. Ông trở thành thành viên của Trung đoàn 320, một trong những trung đoàn chủ lực đủ quân đầu tiên tiến vào chiến trường Tây Nguyên. Sau 4 tháng hành quân bộ từ Xuân Mai, vượt qua Làng Ho (Quảng Bình), ông tới Kon Tum vào tháng 6/1964. Tại đây, bác sĩ Toản cùng đồng đội đã trải qua những năm tháng khốc liệt nhất, từ việc cùng cán bộ địa phương vào các dinh điền bắt ác ôn đến việc tham gia những trận đánh lớn tại Tu mơ rông, Pleiku, Ngọc Rinh Rua, Đăk Tô 1, Đăk Tô 2. Những năm tháng nếm mật nằm vùng này đã tôi luyện một y tá trẻ thành một người lính quân y dày dạn kinh nghiệm, sẵn sàng đối mặt với mọi tình huống ngặt nghèo nhất.

Nhắc về những năm tháng 1969 - 1970 tại Long An và vùng sông nước miền Tây, đôi mắt người cựu binh bồi hồi. Đó là thời điểm khốc liệt nhất khi Nam lộ 4 gần như thành “vùng trắng”, địch kiểm soát gắt gao. “Suốt ngày chúng tôi phải ở dưới hầm, máy bay đánh phá liên tục, pháo nổ như ngô rang. Có những đêm, đơn vị tiếp nhận tới 200 thương binh”. ông Toản nhớ lại.

Giữa lằn ranh sinh tử ấy, bác sĩ Toản và đồng đội có một quy tắc ngầm nhưng sắt đá: “Dụng cụ y tế là vật bất ly thân”. Ông kể, mỗi người lính quân y luôn có một bộ đồ mổ được cuốn cẩn thận trong bao dù, buộc chặt vào bụng bất kể lúc ngủ hay lúc di chuyển. Ông tâm niệm: “Mình chết thì bộ đồ mới được mất”, bởi nếu mất dụng cụ, nghĩa là tước đi cơ hội sống của hàng chục, hàng trăm đồng đội phía sau.

Chiến trường miền Tây còn thử thách người lính bởi điều kiện sống khắc nghiệt đến cùng cực. Tại Đồng Tháp Mười, bộ đội phải sống chung với nước, ngủ trên sạp tre mỏng manh. 100% anh em bị hắc lào, lở loét do ngâm nước quá lâu. Những vết thương chiến tranh vốn đã hiểm nguy nay càng dễ nhiễm trùng, dòi bọ xâm nhập do thiếu điều kiện vệ sinh. Đó là những cuộc chiến thầm lặng mà người thầy thuốc phải đối mặt hằng giờ.

Sáng tạo từ nghịch cảnh

Bác sĩ Quân y Giang Văn Toản vẫn nâng niu những kỷ vật như một phần xương máu của mình.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men và dụng cụ y tế đến, sự sống của đồng đội hoàn toàn phụ thuộc vào sự sáng tạo của người lính quân y. Khi cạn kiệt dịch truyền, bác sĩ Toản đã có sáng kiến dùng nước dừa bánh tẻ. Ông trực tiếp chọn những quả dừa vừa độ, sát trùng mắt quả rồi cắm kim truyền tĩnh mạch cứu sống những chiến sĩ đang lả đi vì mất máu. Mỗi quả dừa mang trong mình khoảng 300ml “dịch truyền” tinh khôi từ lòng đất mẹ đã hồi sinh bao mạng sống.

Không dừng lại ở đó, khi kháng sinh hết sạch, ông tận dụng mật ong rừng, một loại kháng sinh tự nhiên cực mạnh để bơm trực tiếp vào các vết thương hoại tử. Những vết thương thối rữa, nhiễm trùng nặng đã được mật ong làm sạch và khô lại một cách kỳ diệu. Kinh nghiệm xương máu này quý báu đến nỗi, sau này khi đã phục viên về quê hương, ông vẫn dùng nó để chữa khỏi những ca áp xe vú nặng cho bà con lối xóm.

Giữa rừng sâu hay vùng sông nước Đồng Tháp Mười, bàn mổ dã chiến đôi khi chỉ là bốn cành trâm bầu đóng xuống đất, trải mấy tấm tre băm cùng tấm nilon mỏng manh. Những “phòng mổ” ấy đã giành giật lại sự sống cho hàng ngàn chiến sĩ. Có những ca mổ đặc biệt đã đi vào huyền thoại của đơn vị. Đó là lần ông mổ cho một thương binh bị thương ở gan tại Đồng Tháp Mười. Khi mở ổ bụng, ông kinh ngạc thấy một con đỉa to bằng ngón tay cái đã theo vết thương chui vào nằm dọc lá gan. Cú gắp con đỉa ra khỏi cơ thể đồng đội là một khoảnh khắc mà ông không bao giờ quên trong sự nghiệp cầm dao mổ của mình.

Hay ca mổ cho đồng chí Bùi Minh Giám (Chính trị viên Tiểu đoàn 5) bị thương nặng lòi ruột, đội phẫu thuật phải trải nilon mổ ngay trên gò mả giữa đêm tối mênh mông. Đặc biệt nhất là trường hợp một chiến sĩ bị trúng đạn súng AR15 thủng ruột chi chít. Thay vì cắt bỏ đoạn ruột cho nhanh chóng và an toàn trong điều kiện dã chiến, bác sĩ Toản đã thấu hiểu tâm nguyện muốn giữ nguyên vẹn thân thể của đồng đội. Ông đã kiên trì ngồi khâu từng lỗ thủng một, tổng cộng 28 mũi khâu tỉ mỉ để bảo toàn hệ tiêu hóa cho người lính trẻ. Nhưng với bác sĩ Toản, những chiến công thầm lặng ấy chưa bao giờ là của riêng ông. Ông bảo, giữa làn bom đạn, nếu không có những người y sĩ mưu trí giữ đèn dầu cho sáng, không có những y tá sẵn sàng lấy thân mình che chắn cho thương binh mỗi khi pháo dội, thì bàn tay người thầy thuốc dù tài hoa đến mấy cũng trở nên bất lực. Mỗi ca mổ thành công là một bản hòa ca của tình đồng chí, nơi người sống chiến đấu để giữ lại mạng sống cho người đang đứng bên bờ vực thẳm.

Tình quân dân và lời thề người thầy thuốc

Là Đội trưởng đội phẫu thuật kiêm Bệnh xá trưởng Trung đoàn 320 trong giai đoạn 1969-1980, bác sĩ Toản không chỉ lo chuyên môn. Mỗi khi chuyển căn cứ, việc đầu tiên ông làm là chỉ huy anh em y tá đi gài mìn xung quanh các hướng địch có thể vào. Ông vừa cầm dao mổ cứu người, vừa sẵn sàng cầm súng bảo vệ thương binh khi địch càn quét vào căn cứ. Bên cạnh đó, ông còn là người thầy tận tụy. Giữa những khoảng lặng của tiếng súng, ông mở các lớp đào tạo y tá cấp tốc, mỗi khóa 40 người. Những học viên này chính là cánh tay nối dài, là “tay hòm chìa khóa” y tế cho các đơn vị chiến đấu, giúp giảm tải áp lực cho tuyến trên và kịp thời cứu chữa thương binh ngay tại mặt trận.

Dưới lòng đất Đồng Tháp Mười, nơi bộ đội phải ở dưới nước, mặc quần áo nilon và gần như ai cũng bị hắc lào, tình quân dân chính là sợi dây duy trì sự sống. Ông kể về những người dân Long An dũng cảm, dùng xuồng hai đáy để vận chuyển thuốc mê, thuốc kháng sinh và dịch truyền từ các chợ vùng địch như Cần Thơ về cung cấp cho bệnh xá. Thuốc được giấu ở đáy dưới, bên trên phủ bùn đất để qua mặt sự kiểm soát gắt gao của địch.

Những mất mát quá lớn khiến lòng người thắt lại, cựu chiến binh Giang Văn Toản kể về hình ảnh một cô giáo làng năm xưa đã bật khóc nức nở khi chứng kiến sự ra đi của các anh bộ đội: “Anh em hy sinh nhiều thế này thì còn người đâu mà chiến đấu”. Tiếng nấc nghẹn ngào đó thay cho bao nỗi đau mà quân và dân ta đã cùng nhau gánh vác. Bác sĩ Toản bảo, chính những giọt nước mắt ấy đã thôi thúc ông không bao giờ ngừng học tập, nâng cao trình độ. Từ một y tá năm 1965, ông nỗ lực học y sĩ tại Tây Nguyên (1966), rồi học Bác sĩ Ngoại khoa (1967). Bởi ông hiểu rằng, mỗi kiến thức mình học thêm được là thêm một cơ hội giữ lại mạng sống cho đồng đội trước tay tử thần.

Dù bản thân từng 7 lần bị thương, mang trong mình những vết sẹo của chiến tranh, ông vẫn kiên cường chiến đấu cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975 và sau đó tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia. Với năng lực chuyên môn vững vàng và bản lĩnh của một người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, ông đã kinh qua nhiều chức vụ quan trọng như: Đại đội trưởng Quân y Trung đoàn 320, Trợ lý Quân y Sư đoàn 1, rồi Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 4... Ở bất kỳ vị trí nào, ông cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 1981, ông trở về địa phương với tư cách là thương binh mất sức lao động (53%), bệnh binh (81%), nhưng tinh thần của người lính Cụ Hồ vẫn chưa bao giờ tắt. Không nghỉ ngơi cho riêng mình, ông tiếp tục phát huy kiến thức y học quý báu tích lũy từ chiến trường để giúp đỡ Nhân dân địa phương. Ông lặng lẽ thăm khám, chữa bệnh cứu người cho bà con lối xóm, trở thành chỗ dựa tin cậy của Nhân dân mỗi khi đau ốm, thắt chặt thêm nghĩa Đảng lòng dân ngay trên mảnh đất quê hương.

Nhìn lại chặng đường hơn nửa thế kỷ qua, ánh mắt người cựu binh già rạng ngời niềm tự hào về cuộc đời binh nghiệp của mình. Với ông, phần thưởng lớn nhất không phải là những tấm huân chương, mà là: “Tôi vinh dự vì được sát cánh cùng đồng đội, trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu và chứng kiến ngày đất nước không còn chia cắt". Câu chuyện của bác sĩ Giang Văn Toản là minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng của lực lượng quân y. Những “phép màu” chiến trường không chỉ đến từ kỹ thuật y khoa, mà đến từ sự hiệp đồng, tình đồng chí và một nền hòa bình được đổi bằng máu xương của biết bao người con ưu tú.

Hữu Thu


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Dự báo thời tiết
Thời tiết Hà Nội