A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đại tá Vũ Đình Quý: Ký ức những trận đánh sinh tử tại chiến trường Quảng Trị

QPTĐ-Trong căn nhà bình yên giữa lòng Hà Nội, Đại tá Vũ Đình Quý, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 2 (Quân tăng cường Thủ đô), nguyên giảng viên Học viện Quốc phòng, lật giở từng trang hồi ký nhuốm màu thời gian. Ở tuổi 77, trải qua hơn 40 năm quân ngũ và chiến đấu trên khắp các chiến trường khốc liệt nhất, giọng người cựu chiến binh trầm xuống khi nhớ về Quảng Trị năm 1968: “Ngày ấy ra đi, chúng tôi dốc trọn tuổi trẻ cho độc lập. Mặc dù rất tin vào ngày chiến thắng, nhưng chẳng ai dám hẹn trước ngày trở về...”.

Mùa Xuân năm 1968 và chiếc túi nilon dưới đáy ba lô

Lục lại ký ức của gần sáu thập kỷ trước, ông Quý kể về những ngày tháng Bảy, tháng Tám năm 1967. Khi ấy, ông là một cậu thanh niên 18 tuổi vừa rời ghế nhà trường, sinh sống cùng gia đình ở phố Huế (Hà Nội). Cùng lứa tuổi với ông ngày đó, hàng vạn học sinh, sinh viên Hà Nội gác lại ước mơ giảng đường, trốn vé tàu điện từ Chợ Mơ, Bạch Mai lên Hồ Hoàn Kiếm câu tôm hay những buổi sơ tán ở Hà Bắc, Hà Tây, để sẵn sàng bước vào cuộc đời người chiến sĩ.

Tháng 8/1967, ông chính thức nhập ngũ trong đợt tuyển quân đầu tiên do Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội trực tiếp tổ chức. Sau chưa đầy hai tháng huấn luyện cấp tốc ở Đông Anh, đơn vị ông được chuyển lên huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình để tiếp tục rèn luyện kỹ, chiến thuật. “Ngày đó tôi ham học và quyết tâm lắm. Tập luyện khoa mục nào cũng cố đạt kết quả cao nhất”- Đại tá Vũ Đình Quý nhớ lại. Nhờ thành tích xuất sắc, kết thúc đợt huấn luyện, ông là một trong số ít chiến sĩ mới được phong vượt cấp từ Binh nhì lên Hạ sĩ, đảm nhiệm chức vụ Tiểu đội phó và được đưa vào diện cảm tình Đảng.

Tháng 2/1968, trước ngày lên đường vào Nam, toàn đơn vị làm lễ hạ sao, nộp lại toàn bộ giấy tờ tùy thân và nhận trang bị mới. Điều đặc biệt khiến ông nhớ mãi là mỗi người lính được phát ba bộ quần áo Gabadin mới tinh. Hai bộ dùng để mặc hành quân và chiến đấu, còn bộ thứ ba được bọc kín cẩn thận trong túi nilon, xếp gọn gàng dưới đáy ba lô. Cấp trên không giải thích chính thức, nhưng những người lính trẻ tự hiểu với nhau: Bộ quần áo ấy là để dành riêng cho ngày lễ mừng đại thắng nếu giành chiến thắng trong đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968.

Đại tá Vũ Đình Quý hồi tưởng lại những năm tháng chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị ác liệt.

Trong buổi lễ xuất quân dưới cơn mưa tầm tã ở Hòa Bình, âm hưởng đoàn quân nhạc do Thiếu tá Đinh Ngọc Liên chỉ huy cùng lời dặn dò đầy nhiệt huyết của Đại tá Lê Nam Thắng, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô: “Các cháu ra đi hãy mang trong mình dòng máu “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, anh dũng chiến đấu, lập công xuất sắc. Sau này, ngày chiến thắng chú sẽ động viên Nhân dân bốn khu nội thành và bốn huyện ngoại thành trống dong cờ mở đón những người con anh dũng trở về…”. Lời động viên, hứa hẹn của đồng chí Tư lệnh thay mặt cho Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân Thủ đô lúc bấy giờ như lời hiệu triệu, cổ vũ lớp thanh niên ra đi, sẵn xành hy sinh để góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. 

Vượt sông Bến Hải và ký ức “Cơm Bắc - giặc Nam”

Tháng 4/1968, Tiểu đoàn 2 hành quân đến Vĩnh Linh (Quảng Trị). Tại đây, ông Quý cùng đồng đội được bổ sung vào Đại đội bộ binh 3, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 (do đồng chí Sùng Lãm làm Sư đoàn trưởng). Ông được giao nhiệm vụ làm Tiểu đội trưởng. Đơn vị ông chiến đấu tại Mặt trận B5 Quảng Trị - nơi người lính thời bấy giờ thường tự xưng bằng cái tên đầy tự hào nhưng cũng lắm gian truân: Lính “cơm Bắc - giặc Nam”.

Ký ức lần đầu vượt sông Bến Hải ở vùng thượng nguồn vào mùa khô nước cạn vẫn hằn sâu trong tâm trí ông. Vừa bước sang bờ Nam, đập vào mắt người lính trẻ 19 tuổi là một khung cảnh tàn khốc: Bến sông chia làm hai luồng ngược chiều, bên phải là dòng lính mới hừng hực khí thế hành quân vào, còn bên trái ngược lại là những cáng tử sĩ bọc trong túi xác do bộ đội vận tải lặng lẽ khiêng ra. Sự xáo động và lo lắng thoáng qua, nhưng nhiệm vụ chiến đấu đã nhanh chóng kéo họ vào thực tại.

Ngay đêm đầu tiên trú quân tại một khu rừng thưa đã trụi hết lá do chất độc hóa học, bài học về sự tàn khốc của hàng rào điện tử McNamara đã giội xuống đơn vị. Sau chặng đường dài mệt nhọc, một số chiến sĩ rủ nhau xuống hố bom tắm mát và nô đùa. Cây nhiệt đới thu âm của địch ngay lập tức phát hiện tiếng động và báo về trung tâm chỉ huy. Chỉ ít phút sau, trận địa pháo từ các căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu và pháo từ hạm tàu ngoài Cửa Việt đồng loạt nã trúng khu vực tạm dừng của đơn vị, làm nhiều đồng đội của ông hy sinh và bị thương.

Đêm đó, ông Quý nhận phiên gác từ 2 đến 3 giờ sáng do anh Lương Trưởng Cao bàn giao. Đứng dưới hầm kèo giữa khu rừng mờ ảo, ngay cạnh cửa hầm là bao xác của người đồng đội tên Huệ vừa hy sinh hồi tối, ông căng mắt quan sát nhưng tâm trí miên man nhớ về Hà Nội, nhớ gia đình, bạn học lớp 10B Trường Phổ thông 3 (nay là THPT Việt Đức) và người bạn gái thân thiết. Giữa ranh giới sinh tử, tình yêu quê hương và lòng tự trọng của người lính đã hóa thành những dòng thơ ghi vội:

“Đã biết yêu anh không còn sợ nữa

Quyết đứng lên để giữ lấy tình yêu

Khi lũ quỷ hung tàn hòng cướp mất

Tình của anh, tình của vạn triệu người...”

Giữ chốt Đường 9 và những lần thoát chết hy hữu

Nhiệm vụ trọng tâm của Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 là chốt chặn, cắt đứt đường vận chuyển chiến lược của quân địch trên Đường 9, đoạn từ Cửa Việt lên Hướng Hóa, Khe Sanh. Địa bàn tác chiến là những dải đồi liên tiếp, đất đá khô nóng xơ xác vì bom đạn. Trên bầu trời, máy bay trinh sát L-19, OV-10 lượn vòng suốt ngày đêm; pháo binh và B-52 rải thảm liên tục.

Trang bị của mỗi người lính lên chốt ngoài khẩu AK cùng 200 viên đạn, 4 quả lựu đạn, cuốc xẻng, còn có một chiếc túi xác đeo bên hông. “Chúng tôi chuẩn bị cho sự hy sinh của chính mình nhẹ nhàng như thế. Khi xung trận, ai cũng như Bàng Đức thời Tam Quốc xách quan tài ra trận, sẵn sàng ngã xuống vì Tổ quốc”, Đại tá Quý chia sẻ.

Trận đánh đầu tiên ông tham gia diễn ra tại khu vực Khe Sâu - Chùa Đổ. Sau hơn 2 giờ giao tranh ác liệt, đại đội của ông diệt được một số lính Mỹ nhưng rơi vào thế bị bao vây do lực lượng quá chênh lệch. Một mảnh pháo găm sâu vào mông bên trái làm ông tê dại, gục xuống trong máu. Giữa làn đạn tàn khốc, anh Lương Trưởng Cao đã quay lại tìm, xốc nách cõng ông vượt qua vòng vây. Đại đội trưởng Lừng dù bị thương ở tay trái vẫn bình tĩnh chỉ huy chiến hào chặn địch, đồng thời cử trinh sát bắt liên lạc với Trung đoàn Phan Rang (bộ đội địa phương Quảng Trị) đánh tập hậu giải cứu đơn vị vào ngày 1/5/1968.

Sau khi được đưa về Viện 43 mổ gắp mảnh đạn trong điều kiện không thuốc mê, ông chứng kiến hàng loạt đồng đội bị cưa chân, tháo khớp vai đau đớn. Mặc dù vết thương mông chưa lành hẳn, khi nghe Đại đội phó Bùi Đức Hậu vận động “đơn vị đang thiếu người trầm trọng”, ông đã tình nguyện xách ba lô trở lại chiến trường tiếp tục chiến đấu.

Đại tá Vũ Đình Quý (đứng thứ 4 từ phải sang) tham dự tọa đàm kể chuyện truyền thống tại Trung đoàn  692, Sư đoàn BB301.

Trận đánh nảy lửa tiếp theo diễn ra ngày 21/9/1968 tại điểm cao 66 gần Đường 9. Ông Quý được giao chỉ huy một tổ 3 người đi dụ thám báo Mỹ vào khu vực phục kích của quân ta. Bằng sự mưu trí, tổ của ông đã dẫn dụ một đại đội thám báo Mỹ gần 100 quân vào đúng tầm bắn của đơn vị. Khi hiệu lệnh nổ súng phát ra, chỉ trong gần 2 giờ, đơn vị đã tiêu diệt gọn đại đội địch mà gần như không có tổn thất.

Thế nhưng, do chiến đấu ban ngày lộ trận địa, địch lập tức trả đũa khốc liệt. Máy bay C-130 ném hai quả bom napan bạc như con nhộng trùm lửa xuống khu vực trú quân, tiếp đó là xe tăng M41 và cối 80ly từ các căn cứ tràn ra bao vây. Chiều muộn, xung quanh chỉ còn lại ông và chiến sĩ Hùng (quê Hà Tây) bị thương nặng, bong cả mảng xương ở sau lưng, lỗ thủng to gần bằng trôn bát sắt. Ông Quý dùng vỏ hộp thịt Mỹ úp lên vết thương rồi dùng ba cuộn băng cuốn chặt ngực Hùng, cùng nhau bò vào nấp dưới một thân cây to bật gốc.

Nằm áp sát thân cây giữa tiếng xích xe tăng Mỹ nghiến ken két ngay trên đồi, hai người lính truyền tay nhau quả lựu đạn cuối cùng, thề thốt sẽ nổ súng đến viên đạn cuối cùng và rút chốt tự sát chứ nhất quyết không để bị bắt làm tù binh. May mắn thay, trời tối dần, quân Mỹ rút lui. Đến nửa đêm, lực lượng vận tải tìm thấy và đưa cả hai ra Bắc điều trị.

Mắc nợ những người nằm lại

Sau khi bình phục, ông Vũ Đình Quý được cử đi học đào tạo sĩ quan tại Trường Sĩ quan Lục quân (Sơn Tây). Nhưng duyên nợ với chiến trường chưa dừng lại ở đó. Năm 1972, ông tiếp tục khoác ba lô trở lại Quảng Trị trong đội hình Sư đoàn 312B, chiến đấu cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973.

Chưa dừng lại, năm 1979, khi chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc nổ ra, ông lại lên đường trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 194, Sư đoàn 355 (Quân đoàn 29), trực tiếp chỉ huy đơn vị chiến đấu kiên cường ở khu vực Hoàng Liên Sơn. Chiến tranh kết thúc, ông trở thành giảng viên quân sự tại Trường Sĩ quan Lục quân và Học viện Quốc phòng, dành trọn hơn 40 năm cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp binh nghiệp. Rời xa khói lửa chiến tranh, sống trong sự bình yên của Thủ đô hôm nay, Đại tá Vũ Đình Quý vẫn không thôi trăn trở. Ông ngậm ngùi: “So với hàng vạn đồng đội đã nằm lại khắp các chiến trường, tôi thấy mình là người vô cùng may mắn. Nhớ lại những lần đi quy tập liệt sĩ dưới nắng cháy Quảng Trị, thân thể anh em không còn nguyên vẹn, sơ đồ mộ chí thì sơ sài, rồi bom pháo lại cày xới làm mất dấu... Đến nay, sau hơn 40 năm hòa bình, vẫn còn biết bao liệt sĩ chưa tìm được hài cốt hay chưa xác định được danh tính. Cái giá của hòa bình đắt lắm! Những tháng ngày còn lại của cuộc đời, tôi tự dặn lòng phải sống sao cho xứng đáng, tham gia nhiều hơn các hoạt động nghĩa tình để phần nào trả bớt món nợ tri ân với những người đã ngã xuống”.

Hữu Thu

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Dự báo thời tiết
Thời tiết Hà Nội